Thiết kế web
phải
BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG LÃI SUẤT TRÊN TT TRONG THỜI GIAN QUA VÀ DỰ BÁO XU HƯỚNG TỚI CUỐI NĂM 2011 - Tư vấn tài chính, Đầu tư tài chính ,tu van tai chinh, vay vốn, gửi tiết kiệm, vay tín chấp, thế chấp, bank online, tu van tai chinh , cho vay , dich vu kiem toan , bat dong san , dau tu tai chinh, thị trường tài chính, tái cơ cấu, sát nhập, vay vốn, thế chấp, vay online

Hỗ trợ trực tuyến

Mr.Quân Ms Phương Anh
support online support online
0932.31.8196 0932.31.8296
Mrs.Hiền Mr.Hiếu
support online support online
0932318396 0932.31.8596
Hotline: 0932.31.8596

Tỷ giá thị trường

Giá vàng
Đơn vị tính
  Giá vàng Mua Bán
  SBJ
 
 
  SJC
 
 
Tỷ giá ngoại tệ
  USD
 
  EUR
 
  GBP
 
  HKD
 
  JPY
 
Tin chi tiết

BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG LÃI SUẤT TRÊN TT TRONG THỜI GIAN QUA VÀ DỰ BÁO XU HƯỚNG TỚI CUỐI NĂM 2011

19/10/2011  12:19 PM   



 

  1. Tình hình lãi suất trên thị trường tính tới hết quý III năm 2011

            Tình hình lãi suất từ đầu năm tới hết quý III / 2011 đã có chuyển biến rất nhiều và diễn biến khá phức tạp qua các thời kỳ. Đây là bối cảnh đã được dự báo trước ngay từ đầu năm 2011. Tuy nhiên , diễn biến thực tế của nó thì vô cùng phức tạp bởi nó không có một sự thống nhất nào của các ngân hàng trong hệ thống ngân hàng, và ngay cả các chính sách điều chỉnh lãi suất và chính sách quản lý của NHNN cũng chưa thể bám sát hay quản lý một cách triệt để được cục diện biến động lãi suất cho vay và lãi suất huy động của các ngân hàng.

            Sở dĩ có điều này là do rất nhiều nguyên nhân ảnh hưởng như: do ảnh hưởng từ phía tình hình kinh tế vĩ mô, dặc biệt là từ tình hình lạm phát leo thang, từ những chính sách chưa đủ mạnh của NHNN, từ sự bất cập và cạnh tranh không lành mạnh của hệ thống ngân hàng.

            Lạm phát tăng cao tác động đến xu hướng tăng mạnh của lãi suất huy động và cho vay trên thị trường. Trước tình hình đó, NHNN đã ban hành thông tư 02/2011/TT-NHNN quy định mức lãi suất huy động vốn tối đa bằng đồng Việt Nam không vượt quá 14%/năm, nhằm tránh một cuộc đua lãi suất không lành mạnh giữa các ngân hàng, gây bất ổn cho hệ thống. Tuy nhiên, với trần lãi suất 14%/năm, cùng với việc tỷ lệ lạm phát so với cùng kỳ đã lên đến 20,82%, lãi suất huy động và cho vay thực đang ở mức âm. Vì thế, trong thời gian này các ngân hàng thương mại đã “xé rào” lãi suất huy động cả VND và USD, huy động vốn với mức lãi suất bình quân khoảng 17-18%/năm, lãi suất cho vay VND bình quân thực tế khoảng 18,74%/năm, trong đó lãi suất cho vay lĩnh vực phi sản xuất đã lên đến 22-25%/năm, lãi suất huy động USD với mức 3-3,5%/năm, cao hơn mức quy định là 2%. Cuộc chạy đua lãi suất giữa các ngân hàng nếu không được ngăn chặn triệt để sẽ có thể đem lại những hệ lụy lớn cho nền kinh tế và hệ thống ngân hàng, đây là một áp lực lớn đối với cơ quan điều hành CSTT và hệ thống ngân hàng trong thời gian tới.

 

Hình 1: Tình hình diễn biến CPI, lãi suất huy động, cho vay (bình quân)

danh nghĩa và thực tế 6 tháng đầu năm 2011

 

            Bước sang tháng 7/ 2011, tình hình lãi suất thênực tế trên thị trường tài chính đã có những chuyển biến tích cực hơn, đực biệt là cho các nhà đầu tư hay những đối tượng đang có nhu cầu vay vốn thự hiên hoạt đống sản xuất kinh doanh. Cụ thể, So với cuối tháng 6/2011, lãi suất huy động VND giảm khoảng 0,5-0,8%/năm, lãi suất cho vay VND đối với lĩnh vực sản xuất - kinh doanh giảm nhẹ khoảng 0,1-0,3%/năm, lãi suất cho vay VND đối với lĩnh vực phi sản xuất tăng khoảng 0,5%/năm; Lãi suất huy động và cho vay bằng ngoại tệ tương đối ổn định. Hiện nay, lãi suất cho vay VND bình quân khoảng 18,64%/năm (lãi suất cho vay nông nghiệp, nông thôn và xuất khẩu khoảng 16-21%/năm, cho vay sản xuất – kinh doanh khác khoảng 18-22%/năm, lãi suất cho vay lĩnh vực phi sản xuất khoảng 20-25%/năm); Lãi suất huy động USD bình quân khoảng 1,96%/năm, lãi suất cho vay USD bình quân khoảng 6,1%/năm.

Lãi suất cho vay trên thị trường liên ngân hàng ổn định so với cuối tháng 6/2011, hiện lãi suất cho vay qua đêm ở mức 12-13%/năm, lãi suất cho vay kỳ hạn 1 tuần ở mức 14-15%/năm, lãi suất cho vay kỳ hạn từ 2 tuần trở lên ở mức 15,5-16,5%/năm.

Cũng kể từ tháng 7 này, xu hướng giảm lãi suất huy động và cho vay  trên thị trường tài chính có dấu hiệu giả thực sự theo sự chỉ đạo và quản lý của NHNN; tuy nhiên mức độ điều chỉnh còn chưa nhiều. So với cuối tháng 7/2011, lãi suất huy động và cho vay VND tương đối ổn định; Lãi suất huy động USD có dấu hiệu tăng nhẹ và lãi suất cho vay USD tương đối ổn định. Lãi suất cho vay VND bình quân khoảng 18,73%/năm (lãi suất cho vay nông nghiệp, nông thôn và xuất khẩu khoảng 16-21%/năm, cho vay sản xuất - kinh doanh khác khoảng 18-22%/năm, lãi suất cho vay lĩnh vực phi sản xuất khoảng 20-25%/năm); Lãi suất cho vay USD bình quân khoảng 6,2%/năm.

Lãi suất trên thị trường nội tệ liên ngân hàng ổn định và thấp hơn nhiều so với lãi suất huy động VND của tổ chức tín dụng, hiện lãi suất cho vay qua đêm ở mức 10,5-11%/năm, lãi suất cho vay kỳ hạn 1 -2 tuần ở mức 11-13%/năm.

Bước sang tháng 9/2011, đây chính là thời gian mà lãi suất trên thị trường bắt đầu có những chuyển biến tích cực hơn rất nhiều theo đúng lộ trình lãi suất mà NHNN đã đưa ra.

Sau những chương trình "thí điểm" của một số ngân hàng trong những ngày cuối tháng 8, đúng hẹn với Ngân hàng Nhà nước, tuần đầu tháng 9, các ngân hàng đã đồng loạt đưa ra các chương trình giảm lãi suất với mức độ mạnh và diện rộng hơn. Đáng chú ý, có sự tham gia của những ngân hàng quốc doanh lớn.

Ngân hàng Đầu tư phát triển bắt đầu kiểm soát lãi suất cho vay sản xuất giảm từ 6/9/2011. Cụ thể, cho vay ngắn hạn: không quá 18,0%/năm, cho vay trung dài hạn: không quá 19,0%/năm. Đặc biệt, BIDV dành 10.000 tỷ đồng cho vay ngắn hạn cho các khách hàng hoạt động các lĩnh vực thu mua nông thuỷ sản xuất khẩu, công nghiệp nông nghiệp, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, sử dụng dịch vụ khép kín tại BIDV, với lãi suất ưu đãi từ 15,0% - 17,5%năm.

Tuy nhiên, BIDV cũng cho biết, cho vay kinh doanh chứng khoán, bất động sản chịu tối thiểu 19,0%/năm đối với ngắn hạn và 19,5%/năm đối với trung dài hạn, tiếp tục giữ mức lãi suất cho vay ngoại tệ ở mức cao, khoảng 6,0% - 7,0%/năm nhằm kiểm soát tín dụng ở khu vực này. Lãi suất cho vay VND hiện nay phổ biến ở mức từ 20,5% - 22%/năm. Để giảm lãi suất sẽ hỗ trợ sản xuất cho các doanh nghiệp, đây là lần thứ 2, BIDV giảm lãi suất sau đợt giảm hồi trung tuần tháng 8/2011 đưa lãi suất xuống dưới 20%/năm.

Từ ngày 22/8/2011, ABBANK đã triển khai chương trình tín dụng đặc biệt trong đó khách hàng cá nhân, hộ kinh doanh cá thể và doanh nghiệp tư nhân vay tiền sản xuất kinh doanh tại ABBANK sẽ được giảm lãi suất 1,5%/năm và dành hơn 1.000 tỷ đồng để tài trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu với lãi suất ưu đãi từ 18.5 - 19%/năm.

Từ 05/09/2011, SHB có chương trình "Tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ" với lãi suất 17%/năm đến 18%/năm với kỳ hạn cho vay tối đa 06 tháng. Chương trình áp dụng cho các khoản vay ngắn hạn được giải ngân từ đầu tháng 9/2011 đến hết tháng 02/2012. Cùng với đó là rất nhiều ngân hàng khác cũng đã có những động thái rõ dệt và cụ thể trong vấn đề giảm lãi suất cho vay và lãi suất huy động như: Vietinbank, HDBank, Agribank, Sacombank, ACB….

Như vậy, sau các quyết định điều hành khá mạnh mẽ, nhất là việc tháo gỡ các quy định sử dụng vốn của ngân hàng, lãi suất đã được giảm theo đùng cam kết với NHNN.

Đà giảm lãi suất cho vay được củng cố hơn khi các ngân hàng đã có dấu hiệu giảm lãi suất huy động. Ghi nhận trên thị trường phía Nam hiện nay cho thấy, lãi suất ngắn hạn dưới 3 tháng chỉ còn 16-16,5%/năm, giảm 1-2%/năm so với đến 17,5%/năm. Hiện nay, mức giảm phổ biến ở các ngân hàng ở Hà Nội khoảng 0,5%. Lãi suất phổ biến hiện khoáng 18% so với mức 19% trước đây, đặc biệt các kỳ hạn dài có mức giảm mạnh hơn.

Tóm lại:

Trong quý 3, Lãi suất VND: Lãi suất huy độngtừ ngày 07/9/2011, thực hiện Chỉ thị số 02/CT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động của các tổ chức tín dụng phổ biến ở mức 14%/năm; tuy nhiên, một số Ngân hàng thương mại áp dụng mức lãi suất 14%/năm đối với cả các khoản tiền gửi kỳ hạn ngày, tuần. Lãi suất cho vay ổn định trong tháng 7, tháng 8; từ nửa đầu tháng 9 đến nay có xu hướng giảm. Hiện lãi suất cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu phổ biến ở mức 17-19%; lãi suất cho vay sản xuất - kinh doanh khác phổ biến ở mức 17-21%/năm, lãi suất cho vay lĩnh vực phi sản xuất 22-25%/năm.Tuy nhiên, có một thực tế là lượng vốn có lãi suất từ 17 -19% như vậy thực sự vẫn chưa được nhiều và chưa đến được với các đối tượng cần vốn thực sự mà các đối tượng này vẫn phải vay với mức lãi suất là 20%/năm. Một vấn đề nữa là chi phí thực của ngân hàng để huy động vốn tiền gửi trên thực tế vẫn còn cao hơn 14% như công bổ; bởi các ngân hàng này còn phải mất những khoản chi phí ngoài luồng khác như: chi phí thưởng cho các đối tượng giới thiệu được người gửi tiền, chi phí thưởng hay khuyến mại trực tiếp cho khách hàng gửi tiền... để có thể huy động được vốn. Chính vì vậy, cái chuẩn mực lãi suất mà NHNN muốn các NHTM muốn đạt tới là chưa thực sự có được.

Trước những diễn biến khá phúc tạp của thị trường tài chính nói chung và của lãi suất nói riêng thì không chỉ các NHTM mà kể cả những đối tượng khác như người gửi tiền và người cần vay vốn cũng phải có những quyết định đúng đắn và hợp lý với tình hình biến động cũng như có lợi nhất cho mình mà vẫn đảm bảo đúng theo các quy định của NHNN.

Đối với các NHTM: Có lẽ đây chính là giai đoạn mà các NHTM gặp rất  nhiều khó khăn. Họ phải tìm ra cho mình giải pháp để sao cho vừa đảm bào thực hiện đúng theo những quy định của NHNN ở mức lãi suất theo quy định và vừa phải đảm bảo tính thanh khoản, lợi nhuận cho ngân hàng. Điều này còn khó khăn hơn nữa đối với các ngân hàng nhỏ. Đứng trước vấn đề sống còn này, các ngân hàng cần có những chính sách vô cùng linh hoạt trên cơ sở tôn trọng quy định của NHNN. Ví dụ như trong chính sách huy động, ngân hàng cần có những chính sách nhằm gia tăng lợi ích và tài chính và dịch vụ cũng như các thức tiếp cận khách hàng tốt hơn nữa, ưu đãi cho khách hàng tốt hơn, chỉ có như vậy mới có thể vẫn giữ được khách hàng gửi tiền mà không vi phạm quy định của NHNN. Còn đối với cho vay thì các NHTM cũng cần có sự điều chỉnh lãi suất theo hướng giảm xuống; tuy nhiên, do điều kiện khách quan mà không thể giảm đột ngột, giảm sâu một lần xuống mức 17 -19% được. NHTM cần có một tiến trình giảm lãi suất một cách hợp lý nhất với tình hình nội tại của mình. Các NHTM cũng có thể triển khai cung cấp một thỏa thuận tới khách hàng là ”nếu khách hàng gửi tiền với lãi suất 14% tại ngân hàng thì ngân hàng sẽ cam kết cấp tín dụng cho khách hàng với mức lãi suất 17 -19% trong một thời gian nhất định nếu như khách hàng đạt đủ các điều kiện vay vốn”. Nói là như vậy nhưng để làm được những điều đó thì cần một sự lỗ lực và linh hoạt rất lớn của các NHTM.

Đối với đối tượng gửi tiền: Trong tình thế, mặt bằng chung của lãi suất tiền gửi ở tất cả các ngân hàng là 14% thì một điều dễ hiểu là các ngân hàng lớn, ngân hàng cổ phần nhà nước là có uy tín và thu hút được người gửi tiền hơn cả. Đây cũng là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, người gửi tiền cũng cần xem xét cho kỹ ở tất cả các khía cạnh về lợi ích tài chính, về uy tín, về sự tiện lợi, về chất lượng dịch vụ, về mối quan hệ lâu dài của hai bên đã có từ lâu...để đi tới quyết định gửi tiền ở đâu và kỳ hạn bao nhiêu để tối đa hóa lợi ích của mình.

Đối với đối tượng vay vốn: Có lẽ người vay vốn sẽ phải có những suy xét đau đầu hơn so với người gửi tiền. Trên thị trường đã có các ngân hàng công bố cung cấp gói tín dụng với lãi suất từ 17 – 19%  nhưng công bố là như vậy còn khi thực hiện thì lại không hoàn toàn đúng. Thực tế, người vay rất khó có thể tiếp cận với nguồn vốn này ở thời điểm hiện nay, đối với một số ngân hàng và một số đối tượng vay vốn thì điều này là hoàn toàn không có được. Chính vì vậy, các chủ thể vay vốn này cần lựa chọn đúng cho mình một ngân hàng mà khả năng mình được vay với mức lãi suất thấp nhất có thể, và nếu có thể thì cũng nên để một thời gian ngắn nữa thực hiện các khoản vay của mình thì chắc chắn sẽ giảm được khá nhiều về chi phí lãi suất, chi phí dịch vụ khác.

2.Dự báo biến động lãi suất trong quý IV năm 2011

Trong vài tháng tới, với quyết tâm siết chặt quản lý lãi suất đưa lãi suất cho vay về mức 17% - 19% và lãi suất huy động trần mức 14% thì sự can thiệp hành chính của Ngân hàng Nhà nước vẫn còn tác dụngmạnh. Lãi suất đã hạ một cách thực chất. Thế nên ít ra ngay tại thời điểm này và trong một đến hai tháng tới đây, tình hính lãi suất sẽ vẫn được duy trì theo hướng ổn định này. Tuy nhiên, NHNN cũng sẽ có những chính sách điều chỉnh xung quanh mục tiêu lớn này. Như:

Từ 1/10, nhiều ngân hàng điều chỉnh lãi suất huy động VND kì hạn dưới 1 tháng về mức cao nhất 6%/năm theo quy định tại Thông tư 30 của NHNN.

 Ngày 06/10/2011, NHNN ban hành quyết định số 2210/QĐ-NHNN về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN VN đối với các ngân hàng. Theo đó, NHNN điều chỉnh tăng lãi suất tái cấp vốn từ 14%/năm lên 15%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng từ 14%/năm lên 16%/năm áp dụng từ ngày 10/10/2011.

Cùng ngày, NHNN ban hành Quyết định số 2209/QĐ-NHNN về việc giảm lãi suất tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng ngoại tệ của các TCTD tại NHNN từ 0,1%/năm xuống 0,05%/năm, áp dụng từ kỳ dự trữ bắt buộc tháng 10/2011; giảm lãi suất tiền gửi bằng ngoại tệ của Kho bạc Nhà nước tại NHNN từ 0,1%/năm xuống 0,05%/năm, áp dụng từ ngày 10/10/2011.

         Mục đích của việc điều chỉnh các mức lãi suất nêu trên chủ yếu để đảm bảo tính hợp lý trong mối quan hệ giữa các mức lãi suất điều hành của Ngân hàng Nhà nước và  vai trò Ngân hàng Nhà nước là người cho vay cuối cùng nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ và điều tiết lãi suất thị trường.

            Dự báo từ giờ tới hết năm 2011, lãi suất huy động của ngân hàng ở các kỳ hạn từ 1 – 6 tháng sẽ ở mức cao nhất ở mức 14% bằng với lãi suât trần và các kỳ hạn dài hơn sẽ giảm hởn mức 13% / năm. Còn đối với lãi suất không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng  sẽ ở mức 5% - 6% / năm. Ngoài ra, với những điều chỉnh trong thời gian tới của NHNN, các chuẩn mực lãi suất huy động thực và cho vay thực sẽ ở mức tương ứng 14 % và 17% -19%  đúng như những chỉ đạo của NHNN chứ không phải như hiện nay; lãi suất cho vay công bố một đằng nhưng để tiếp cận được với mức đó thì vô vùng khó khăn đối với các cá nhân và doanh nghiệp cần vay vốn thực sự.

            Còn việc hi vọng lãi suất huy động và cho vay giảm dưới mức 14% và 17% - 19% là điều khó có thể xẩy ra cho tới cuối năm nay.

            Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là với tình hình lạm phát hiện tại và sẽ có xu hướng tăng theo quy luật và cuối  năm cộng với việc điều chỉnh lãi suất giảm như vậy cũng đồng nghĩa với việc sẽ nới lỏng chính sách tiền tệ. Và điều này có thể làm cho tình hình lạm phát của nền kinh tế xấu đi. Lúc này bài toán khó kiềm chế lạm phát lại được đặt ra và đứng trước sự lựa chọn đó thì NHNN liệu có thể còn cứng rắn tiếp tục cứng rắn trong vấn đề kiểm soát lãi suất như vậy không? Và liệu khi đó, mặt bằng lãi suất có lại bị tăng lên hay không? Tuy nhiên, nếu song song với việc điều chỉnh lãi suất theo quy định nghiêm như hiện tại mà NHNN sử dụng một cách có hiệu quả và linh hoạt các công cụ khác của chính sách tiền tệ như: thị trường mở, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu …thì NHNN vẫn có thể kiềm chế lạm phát đúng theo mục tiên đề ra và chỉ tiêu về lãi suất vẫn được bảo đảm. Điều này đã phần nào được nhận thấy trong thời gian gần đây, khi mà NHNN đang sử dụng khá thường xuyên và linh hoạt các công cụ này trong thời gian gần đây.

 

Khuyến cáo nhà đầu tư:

            Khuyến cáo: Báo cáo trên của chúng tôi chỉ mang tính tham khảo. Chúng tôi không chịu trách nhiệm dưới mọi hình thức lỗ lãi nào của các nhà đầu tư.

            Thông tin tham khảo:

  1. Thông tin hoạt động ngân hàng tháng 7/2011 ( NHNN Việt Nam)
  2. Thông tin hoạt động ngân hàng tháng 8/2011 (NHNN Việt Nam)
  3. Thông tin hoạt động ngân hàng quý 3/2011 ( NHNN Việt Nam)
  4. Webside của NHNN và các văn bản quy định liên quan có đề cập tới trong bài viết.

 

            

 

 

 


Chia sẻ:
Các tin tức khác
Go to the top of the page